THỜI GIAN LÀ VÀNG

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Ảnh ngẫu nhiên

Z7232102771842_270f712469efde1c8dc4ce49757d0cab.jpg Z7089722209893_38ed1851706c0e012d9c876c702ef8d2.jpg Z7089722154915_17ea1c8cc95c33c16aa74450f23ccf18.jpg Z7089722146321_ffc4122616d58d74104b448edc6135f4.jpg Z7089722209893_38ed1851706c0e012d9c876c702ef8d2.jpg Anh_the.jpg Z3713233337347_74495a3a248a70a3c3f84a8ba1272a3c.jpg Z3713233342267_6aab8b617282419b7d7d16aa068a7d83.jpg TH52.jpg TH_75.jpg TH_66_NGAY_1_TET.jpg TH_59.jpg 7cea2469a8644d3a1475.jpg 2546e8da525ab604ef4b.jpg 995c916d4cfea8a0f1ef.jpg E877439ff79913c74a88.jpg F838235680f964a73de8.jpg 06220f44ee0a0954501b.jpg D768d8359633726d2b22.jpg

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Sắp xếp dữ liệu

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • KHU VỰC VÍP

    nhac

    Chào mừng quý vị đến với website của Han Van Tuan

    Gốc > Sáng kiến kinh nghiệm >

    SKKN 2014

    MỤC LỤC

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    Duy trì sĩ số góp phần nâng cao chất lượng

    học tập cho học sinh dân tộc thiểu số

    DANH MỤC

    NỘI DUNG

    TRANG

    GHI CHÚ

     

     

     

     

     

    I/ MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài:

    2

     

     

    1. Mục đích nghiên cứu

    2

     

     

    1. Đối tượng nghiên cứu

    2

     

     

    1. Phương pháp nghiên cứu

    2

     

     

    1. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

    3

     

     

     

     

     

     

    II/ NỘI DUNG

    1. Cơ sở lý luận của vấn đề

    3

     

     

    1. Thực trạng của vấn đề

    3

     

     

    1. Các biện pháp tiến hành để

    giải quyết vấn đề

    4

     

     

    1. Kết quả đạt được

    7

     

     

     

    III/ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận

    9

     

     

    1. Kiến nghị

    9

     

     

     

     

     

    I/  MỞ ĐẦU

              1. Lý do chọn đề tài:

    Với trách nhiệm của một giáo viên Tiểu học, bất cứ người giáo viên chủ nhiệm nào cũng mong muốn lớp mình phụ trách suốt từ đầu năm đến cuối năm phải đảm bảo về mặt sĩ số cũng như phải đạt yêu cầu về mặt chất lượng học tập. Nhưng thực tế vô cùng phức tạp vì đối tượng học sinh rất đa dạng, vì mỗi em có hoàn cảnh và điều kiện sống khác nhau, nếu giáo viên không khéo léo thì khó mà duy trì sĩ số lớp mình đạt như mong muốn.

    Trường tiểu học Trần Bội Cơ  tỷ lệ học sinh dân tộc chiếm khoảng 21% . Hằng năm số lượng học sinh dân tộc nghỉ học vẫn diễn ra. Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy học sinh vùng dân tộc thiểu số, trước những vấn đề nêu trên, tôi suy nghĩ rất nhiều: làm thế nào mà duy trì được sĩ số học sinh, để thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục Tiểu học và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Nên tôi đã chọn đề tài: “ Duy trì sĩ số góp phần nâng cao chất lượng học tập cho học sinh dân tộc thiểu số ”

         2 . Mục tiêu nghiên cứu :

             Tìm ra các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến học sinh bỏ học.

    Đề xuất những biện pháp duy trì sĩ số học sinh dân tộc ở Trường Tiểu học Trần Bội Cơ.

    3. Đối tượng nghiên cứu :

    Lớp chủ nhiệm, trong đó chủ yếu là học sinh dân tộc.

    4. Phương pháp nghiên cứu :

    Đọc các tài liệu có liên quan đến công tác duy trì sĩ số, các văn kiện, các chỉ, Nghị quyết của trung ương của bộ chính trị, Đảng bộ huyện Đak Song, các Nghị quyết của Đảng ủy xã Đak Môl, Nghị quyết Hội nghị CNVC năm học 2012 – 2013, năm học 2013-2014 của  Trường Tiểu học Trần Bội Cơ.

    Tôi đã dùng phương pháp phỏng vấn Phụ huynh, học sinh. Điều tra hoàn cảnh gia đình học sinh, chế độ chính sách đối với học sinh dân tộc.

    Bảng thống kê số liệu học sinh bỏ học của những năm học trước.

    1. 1.  Giới hạn  phạm vi nghiên cứu:

    Xoay quanh đề tài nghiên cứu: “Duy trì sĩ số góp phần nâng cao chất lượng học tập cho học sinh dân tộc thiểu số”. Phạm vi nghiên cứu ở lớp chủ nhiệm và ở trường.

    II/  NỘI DUNG

             1. Cơ sở lý luận của vấn đề:

    Việc duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần ở trường tiểu học đóng một vai trò rất quan trọng trong việc học tập  của học sinh. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và mang lại kết quả học tập tốt. Nhưng hiện nay, một số học sinh thuộc con em đồng bào dân tộc và các gia đình đi kinh tế mới từ phương xa đến thôn E29 xã Đak Mol - Đak Song sinh sống làm ăn. Họ thuộc đủ mọi dân tộc khác nhau chủ yếu ở phía bắc như Dao, Tày,... Chính vì mãi lo cho kinh tế gia đình một số phụ huynh ít quan tâm đến việc học tập của các em. Mặt khác một số gia đình nhà ở vùng sâu, vùng xa, đường sá đi lại khó khăn vất vả. Nên việc các em nghỉ học, bỏ học ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài và kết quả học tập là điều không tránh khỏi. Vì thế, qua nhiều năm đứng lớp bản thân tôi luôn suy nghĩ và đặt cho mình câu hỏi: “Làm thể nào để duy trì sĩ số và đảm bảo chuyên cần? “. Đây cũng là một vấn đề giúp các em tiếp thu bài đầy đủ, có kết quả tốt trong học tập và tiếp tục con đường học vấn của mình.

    2. Thực trạng của vấn đề:

    a. Thuận lợi:

    Giáo viên không quản đường sá khó khăn, luôn nhiệt tình trong công tác.

    Học sinh có đầy đủ sách vở và đồ dùng học tập.

    Ban Giám Hiệu quan tâm sâu sát về cơ sở vật chất, trang bị đầy thiết bị dạy học, cơ sở vật chất phòng học luôn phù hợp cho lớp.

         b. Khó khăn:

    Một số em lười biếng, không thích học, vệ sinh chưa sạch sẽ…

    Một số  em học yếu, sợ thầy cô, trong lớp có những học sinh cá biệt.

    Đa số các em diện học sinh dân tộc, nhà nghèo, một số em có hoàn cảnh khó khăn mồ côi cha mẹ, thiếu đồ dùng học tập, không người đôn đốc, chăm sóc học tập.

    Gia đình không quan tâm, giáo dục cho các em thấy được lợi ích của việc đi học và đi học đều.

    3. Các biện pháp tiến hành để  giải quyết vấn đề:

    Từ những thực trạng trên, là một giáo viên tôi suy nghĩ mình cần phải làm gì để duy trì và tìm mọi biện pháp chặn đứng việc nghỉ học, bỏ học của các em và để làm tròn trách nhiệm với Nhà Nuớc, đối với ngành Giáo dục và ban Giám Hiệu trường giao cho. Để làm được việc đó, tôi đã thực hiện một số biện pháp sau:

    a. Những yêu cầu cần thiết :

    Ngoài những phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, tôi cũng dùng  phương pháp như tạo bầu không khí như gia đình, cho học sinh tâm sự, phát biểu ý kiến, kể chuyện tọa đàm lồng ghép về chủ đề học tập để có tri thức giúp ích bản thân, gia đình và xã hội.

    Đã nhiều năm giảng dạy, tôi luôn có thái độ đối xử với các em học sinh hết sức công bằng, gần gủi như  cha con, không phân biệt đối xử với học sinh nào để tránh cho các em sự mặc cảm. Đối với học sinh yếu kém, thiếu điều kiện học tập, thiếu tình cảm gia đình thì càng được tôi quan tâm chăm sóc hơn, sự dịu dàng, vừa cương vừa nhu đã làm cho các em yên tâm hơn và ham thích đến trường.

    Dù cuộc sống có khó khăn, nhưng đã là giáo viên để xứng đáng là tấm gương sáng của trẻ ở trường, tôi hết sức thương yêu  chăm sóc các em, vừa dạy vừa dỗ dành giáo dục các em. Trong hoàn cảnh nào tôi cũng không làm cho các em sợ sệt, không ham thích đến lớp, tôi luôn luôn khuyên răn các em và giúp các em hiểu được sự sâu sắc của việc đi học. Học sinh bâc tiểu học rất dể nghe lời nên tôi dùng lời lẻ dịu ngọt pha trò, an ủi giáo dục hơn là dùng hình phạt đánh mắng, sĩ nhục các em. Giúp các em phân biệt được tầm quan trọng của việc đi học và hậu quả của việc nghỉ học, bỏ học. Để từ đó, các em hình thành trong tâm trí mình sự ham thích đến trường, say mê học tập và là một người có ích cho xã hội.

    Tôi thường xuyên trao dồi và nâng cao kiến thức của mình, dành nhiều công sức và tâm huyết soạn và giảng dạy tốt. Đầu tư, sáng tạo nhiều phương pháp giảng dạy sinh động nhằm cuốn hút lòng yêu thích học tập của các em, giúp các em ngày càng có hứng thú tìm tòi kiến thức.

    b. Tạo môi trường giáo dục tốt:

    Trong điều kiện giảng dạy tương đối khang trang của một trường Tiểu học như trường Trần Bội Cơ. Thì đó là một thuận lợi rất lớn để giúp tôi xây dựng một môi trường sư phạm tốt cho học sinh học tập. Phải tùy hoàn cảnh cụ thể, tạo khung cảnh giáo dục tốt làm cho học sinh ngồi trong lớp học thấy vui tươi, thích thú không nặng nề, sợ sệt. Tôi luôn lưu ý xem tài sản lớp học, chăm sóc lớp như nhà của mình để cùng nhau trang trí, là giáo viên lớp 5 tôi tự cho học sinh chọn những hình ảnh treo trên tường có tính cách giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

    Giờ ra chơi, tôi tổ chức vui chơi tập thể để tạo sự gắn bó thương yêu trong học sinh và sự gần gủi thân mật giữa học sinh với giáo viên. Trong chương trình giảng dạy tôi tổ chức những buổi vui học cuối tuần trong tiết sinh hoạt với hình thức đố vui, ôn tập, hái hoa để chuẩn bị cho các kỳ khảo sát và kiểm tra học kỳ. Trong những năm qua, bằng hình thức này tôi đã ôn tập cho các em thi đạt kết quả cao, và các em cũng vui thích tham gia tích cực cho phong trào của lớp sôi động trong các hoạt động ngoại khóa như thi kể chuyện, vẽ tranh, hát …. Vì vậy cứ đến ngày cuối tuần là các em rất buồn vì sắp phải xa không khí học tập, hứng thú ấy và mong gặp nhau trong những tuần học tới.

    Tôi cũng thường xuyên quan tâm sâu sắc đến hoàn cảnh sống của từng em học sinh nhằm tìm ra phương pháp khắc phục khó khăn giúp các em tiếp tục đến trường. Liên lạc chặt chẽ với phụ huynh học sinh về việc học tập của các em. Động viên khuyến khích phụ huynh học sinh cho con em đến trường đều đặn (đối với những gia đình ít quan tâm đến việc học tập của con cái hoặc có ý  định cho con nghỉ học).

    Gửi thư báo về gia đình phụ huynh học sinh ở những trường hợp học sinh trốn học, nghỉ học không phép, hay liên tục nghỉ học nhiều ngày để gia đình nắm rõ có biện pháp kết hợp với nhà trường quản lý các em.

    • Biện pháp thực hiện:

    v  Phong trào cùng nhau đi học :

    Kết hợp với Chi hội cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, ban ngành đoàn thể, tạo thành những phong trào học tập thúc đẩy các em đến trường trong tình huống học sinh bỏ học, nghỉ học thông qua kỳ họp phụ huynh học sinh đầu năm.

    Đầu năm học, tôi điều tra lý lịch học sinh, nắm địa bàn cư ngụ của các em để kết hợp nhóm 4 đến 5 em ở gần nhau tạo thành nhóm học tập. Như vậy lớp tôi chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm có phân công nhóm trưởng và nhóm phó và cùng thi đua với nhau để giữ tỷ lệ chuyên cần của nhóm mình tạo thành một phong trào “cùng nhau đi học”. Bởi vậy, khi có một học sinh không đi học là tôi biết ngay lý do qua báo cáo của nhóm trưởng, tôi đến tận gia đình nắm tình hình, động viên các em đi học hoặc nhờ cha mẹ học sinh nhắc nhở con em mình đi học và nhờ chi hội lớp động viên gia đình cho con đến lớp. Nếu gặp trường hợp học sinh nghỉ, bỏ học vì về tài chính, ốm đau đều được tập thể lớp hỗ trợ các em vượt qua và đến lớp cùng học tập với các bạn. Hoặc nếu các em bận việc giúp cha mẹ thì các thành viên trong nhóm cùng giúp đỡ để không mất điểm thi đua.

    Ngoài ra, tôi buộc học sinh khi nghỉ học phải nhờ cha mẹ đến xin phép, tôi chỉ chấp nhận nghỉ học với lý do chính đáng như : bệnh, tai nạn ..… Còn nghỉ để đi ăn giỗ, ăn cưới … đều được tôi động viên cho đi học, nhờ vậy mà mấy năm qua số học sinh vắng mặt hay bỏ học nữa chừng hầu như không có.

    v Phong trào cùng bạn học giỏi:

    Các em học kém, yếu có tâm trạng sợ, không ham thích đến lớp, vì vậy việc khắc phục tình trạng học yếu kém cũng là việc hạn chế tỷ lệ bỏ học của  các em. Sau khi kiểm tra chất lượng đầu năm nắm được tình hình học tập của từng em trong lớp mình, tôi phân cụ thể cho những em học giỏi hỗ trợ các em yếu kém cùng tiến bộ tạo thành một phong trào “đôi bạn học giỏi

    Khi phân công làm việc này, tôi phải liên hệ gia đình các em để nhờ sự hỗ trợ, kiểm soát việc học tập của các em ở nhà, tôi lập phiếu theo dõi và đưa ra những hướng dẫn , biện pháp để các em học tập ở nhà dưới sự quản lý của nhóm trưởng. Hàng tháng đều phải đúc kết việc phong trào “Đôi bạn học giỏi” để động viên khen thưởng các em. Tôi khen thưởng mỗi em đạt yêu cầu là 2 quyển tập và những tràng phao tay  cho nhóm tốt để các em vui thích mà học tập.

    v Phong trào “Giúp bạn vượt khó ”

    Trong lớp có một vài em học sinh vì hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, thiếu điều kiện học tập, thiếu tình yêu thương của bố mẹ, làm cho các em buồn nản, tủi thân mà không muốn đến lớp. Để giúp em vơi đi nỗi buồn bỏ tự ti, mặc cảm, hòa đồng với tập thể lớp tôi đã phát động phong trào “Giúp bạn vượt khó ”, tôi giáo dục các em làm việc này để giúp bạn có điều kiện học tập tiến bộ như: Mình thương bạn như thương chính mình, kêu gọi các em trong lớp luôn an ủi, động viên em để em vui vẻ và thích đi học.

    Bên cạnh đó,  Ban Giám Hiệu, Ban chấp hành Công đoàn, Chi Đoàn, Đội đã chăm lo : quần áo, đồ dùng học tập, quà tết ,… cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống và tích cực  trong học tập.

    Ngoài ra, hàng tuần trong giờ sinh hoạt lớp tôi nhắc nhở học sinh không nghỉ học với những lý do không chính đáng như đi ăn cưới, giỗ ,….

    Tôi tổng kết ngày nghỉ của các em trong phiếu liên lạc để phụ huynh học sinh biết được số ngày nghỉ của con mình. Tôi phân tích cho các em thấy nghỉ học như thế nào là chính đáng và không chính đáng, và việc nghỉ học của mình làm ảnh hưởng đến lớp, thầy cô bạn bè phiền lòng như thế nào, đến kết quả học tập và hạnh kiểm của bản thân. Vì vậy, mà các em có bệnh ít vẫn cố gắng đến lớp chứ không dám nghỉ học.

    Đối với các em bị khuyết tật (khó khăn nói, khó khăn nghe, khó khăn về vận động, khó khăn về nhìn, …) tôi giáo dục học sinh không chế nhạo bạn, mà phải tìm mọi cách để giúp đỡ bạn, để các bạn đó vui vẻ không mặc cảm về bệnh tât của mình mà hòa nhập với tập thể lớp không bỏ học, đi học đều bằng cách lồng ghép những câu chuyện kể liên quan trong các môn đạo đức hay giáo dục quyền trẻ em , các em rất thích nghe và đi vào thực tế  rất sinh động và hiệu quả.

    v Phong trào dạy tốt , học tốt:

    Là giáo viên đứng lớp 5 phải luôn trao dồi kiến thức, nắm bắt các kinh nghiệm của đồng nghiệp và phương pháp lấy học sinh làm trung tâm để thực hiện tiết học đầy hứng thú và có kết quả tốt trong cả 9 môn học.

    Nâng cao chất lượng dạy bằng nhiều lần thao giảng, dự giờ hoặc tham gia sinh hoạt chuyên đề, tìm ra và giải quyết ngay lỗ hổng kiến thức học sinh ngay trong quá trình dạy, học.

    Phụ đạo học sinh yếu và bồi dưỡng học sinh giỏi trong từng tiết dạy .

    Tôi luôn luôn hướng các em theo khẩu hiệu “Học vì ngày mai lập nghiệp”. Tôi tin tưởng rằng tôi đã đưa ra những phương pháp rất thích hợp để duy trì sĩ số, nâng cao tỷ lệ chuyên cần của học sinh.

    4. Kết quả đạt được:

    • Ø Kết quả :

    Kết quả duy trì sĩ số và đảm bảo chuyên cần trong những năm qua như sau:

    ( số liệu thống kê trong 3 năm liền kề)

    * Năm học 2011-2012 ( Lớp 5A )

    Một học sinh dân tộc vắng trung bình 1 tháng là 1-2 buổi, tất cả đều có phép. Không những vậy mà kể cả học sinh kinh, trong lớp còn vài trường hợp học sinh cá biệt: Như hay đánh nhau, chộm cắp vặt hoặc có hoàn cảnh khó khăn, mồ côi …Em Vũ Bá Huỳnh có hoàn cảnh khó khăn bố mẹ bỏ nhau, em ở với ông bà ngoại, mẹ em lại bị bệnh nặng. Em không được sự quan tâm chăm sóc của gia đình nên chở nên hư hỏng. Bỏ học nghịch ngợm và theo  bạn bè đi chơi. Biết tình hình đó tôi đến gia đình nhiều lần và động viên em đi học trở lại. Từ đó em đi học chuyên cần từ học sinh yếu kém em vươn lên học sinh trung bình và càng ngày càng tiến bộ.

    Sĩ số đầu năm là 27 học sinh, đến cuối năm là 27 học sinh , đảm bảo chỉ tiêu 100% (Không  có học sinh nghỉ trên 3 buổi trong 1 tháng và không có học sinh nghỉ không phép).

    * Năm học 2012-2013 ( Lớp 5B )

    Trong năm học này, cũng như những năm học trước tôi đưa chỉ tiêu đảm bảo chất lượng học tập, duy trì sĩ số 100%. Mặc dù đầu năm học cũng có rất nhiều những khó khăn thách thức. Lớp có 7 em dân tộc trong đó có dân tộc Dao, Tày. Cả 7 em này đều ở tận E29 III cách trường học khoảng 9 km đường vào rừng sâu. Gia đình các em khó khăn nên bố mẹ ở luôn trong rẫy làm ăn, còn con cái tập trung ở trọ nhà người quen cách trường vài km. Nên các em nghỉ học thường xuyên, trong lớp có em Đặng Tòn Lai (dt Dao) và em Bàn Lê Hùng (dt Tày)  đầu năm hai em thường xuyên nghỉ học không rõ lý do các bạn nói các em ở trong rẫy làm cùng bố mẹ, vì đường lầy lội mà xa nhà nên có nguy cơ nghỉ học. Biết tình hình đó tôi đã tìm vào nhà em, đi khoảng gần 3 tiếng đồng hồ vừa đi xe vừa đi bộ, mới tới nhà các em. Qua hỏi han nắm bắt tình hình và giải thích cho bố mẹ các em hiểu để phối hợp giúp đỡ các em học tập chuyên cần. Kể từ đó không ngày nào các em bỏ học nữa.

    * Năm học 2013 – 2014 ( Lớp 4A )

    Một học sinh dân tộc vắng trung bình từ 2 - 3 buổi/tháng, tất cả đều có phép.

    Sĩ số đầu năm là 20 học sinh, đến cuối năm cũng là 20 học sinh, đảm bảo chỉ tiêu 100% .

    •  Về mặt học tập  : Không còn học sinh yếu ở giữa  kì I; II và nâng lên học sinh TB, khá, Giỏi: 100% được lên lớp kể cả sau thi lại.
      • Ø Bài học kinh nghiệm :

    Muốn duy trì sĩ số, giáo viên chủ nhiệm cần phải :

    Phải nhiệt tình, năng nổ, phải luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để cải tiến phương pháp giảng dạy lôi cuốn học sinh, được sự tin tưởng của phụ huynh học sinh

    Phải kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với Đoàn thể, với địa phương, tạo những điều kiện, môi trường giáo dục tốt.

    Phải tạo sự đoàn kết, yêu thương giúp đỡ của học sinh trong lớp qua các phong trào. Tạo cho các em động cơ ham học, trong việc uốn nắn các em, giáo viên chủ nhiệm phải luôn giữ  thái độ bình tĩnh, không nóng vội, không dùng lời lẽ nặng nề với các em, hòa hợp với các em, xem học sinh là con đẻ của mình, chia sẻ vui buồn, cùng lắng nghe ý kiến học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp .

    Học sinh lớp 5 trong độ tuổi biết tự ái, giận hờn, thích đựơc động viên khen thưởng, giáo viên không nên dùng hình phạt, đánh mắng làm cho các em sợ sệt không ham thích đến lớp, phải tạo cho các em một niềm tin để các em an tâm học tập và xem giáo viên chủ nhiệm là người mẹ hiền.

    Nên tổ chức vui chơi tập thể trong các giờ ra chơi, giờ sinh hoạt lớp để tạo sự gắn bó thương yêu trong học sinh và giáo viên. Trong chương trình giảng dạy nên tổ chức những buổi vui học, học vui dưới hình thức ôn tập.

    Tóm lại: Nếu giáo viên  chủ nhiệm tạo được sự mật thiết giữa thầy  với trò, giữa học sinh với học sinh, thầy trò tạo được sự vui vẻ học tập trong suốt thời gian ở lớp thì chắc chắn các em  sẽ đến lớp đều đặn, bằng sự tự nguyện và sẽ cảm thấy tiếc nuối khi phải bỏ học, nghỉ học, và vai trò của chúng ta đã hoàn thành .

             III/ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận:

    Để duy trì sĩ số đạt kết quả 100%, mỗi giáo viên phải tìm tòi biện pháp thích hợp mang lại hiệu quả cao nhất cho từng năm học. Bản thân tôi luôn coi trọng những biện pháp đã trình bày ở trên.

    Qua bao năm tận tụy với nghề nghiệp, hết lòng yêu nghề, mến trẻ thực hiện phương châm “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Kết hợp với kinh nghiệm bao năm gắn bó với nghề tôi đã hoàn thành tốt tỉ lệ duy trì sĩ số do lớp mình chủ nhiệm. Đây là một trong những tác động lớn đã đưa tôi đến việc nghiên cứu đề tài thiết thực hơn nhằm thực hiện đề tài viết sáng kiến kinh nghiệm đạt kết quả cao nhất.

    2. Kiến nghị:

    Để đảm bảo được công tác duy trì sĩ số, nâng cao chất lượng giáo dục và tiến tới mục tiêu phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi. Cần có sự quan tâm hỗ trợ đúng mức của toàn xã hội. Tôi xin có một số đề xuất như sau:

    • Ø Đối với nhà trường:

    Có hình thức khen thưởng kịp thời đối với lớp, đối với giáo viên chủ nhiệm không có học sinh bỏ học.

    • Ø Đối với ngành :

     Sắp xếp bố trí đủ số lượng giáo viên đứng lớp ngay từ đầu mỗi năm học.

         Hỗ trợ kinh phí để nhà trường mở lớp 2 buổi/ ngày.

    Tiếp tục tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, như vậy chất lượng, trình độ tay nghề của giáo viên mới nâng lên cả về chất và về lượng.

    • Ø Đối với chính quyền các cấp:

    Đề nghị tập trung đầu tư cơ sở vật chất cho các đơn vị trường học, gắn kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.

    Luôn tạo mọi điều kiện giúp đỡ về vật chất cho những em học sinh nghèo và những em có hoàn cảnh khó khăn để các em được đến trường như các bạn khác và tham gia vận động học sinh bỏ học đi học lại cùng với giáo viên chủ nhiệm.

    Tôi tin rằng những phương pháp đã thực hiện trong hiện tại và tương lai tỷ lệ duy trì sĩ số của trường Tiểu học Trần Bội Cơ ngày càng được nâng cao và đảm bảo 100%.

                                                                   Đăk  Môl, ngày 12 tháng 02  năm 2015.

                                                                                            NGƯỜI VIẾT

     

     

                                                                                                         Hán Văn Tuấn

     

                             ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH

     

     

     

     

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Han Van Tuan @ 20:37 21/03/2015
    Số lượt xem: 2012
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    CÙNG ĐỌC BÁO NHÉ