THỜI GIAN LÀ VÀNG

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Ảnh ngẫu nhiên

Z7232102771842_270f712469efde1c8dc4ce49757d0cab.jpg Z7089722209893_38ed1851706c0e012d9c876c702ef8d2.jpg Z7089722154915_17ea1c8cc95c33c16aa74450f23ccf18.jpg Z7089722146321_ffc4122616d58d74104b448edc6135f4.jpg Z7089722209893_38ed1851706c0e012d9c876c702ef8d2.jpg Anh_the.jpg Z3713233337347_74495a3a248a70a3c3f84a8ba1272a3c.jpg Z3713233342267_6aab8b617282419b7d7d16aa068a7d83.jpg TH52.jpg TH_75.jpg TH_66_NGAY_1_TET.jpg TH_59.jpg 7cea2469a8644d3a1475.jpg 2546e8da525ab604ef4b.jpg 995c916d4cfea8a0f1ef.jpg E877439ff79913c74a88.jpg F838235680f964a73de8.jpg 06220f44ee0a0954501b.jpg D768d8359633726d2b22.jpg

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Sắp xếp dữ liệu

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • KHU VỰC VÍP

    nhac

    Chào mừng quý vị đến với website của Han Van Tuan

    Gốc > Sáng kiến kinh nghiệm >

    SKKN 2016-2017

                                                        MỤC LỤC

     

                                            NỘI DUNG

     TRANG

    I. MỞ ĐẦU: Đặt vấn đề

    1.1. Lý do chọn đề tài.....................................................................

    1.2. Mục đích nghiên cứu...............................................................

    1.3. Đối tượng nghiên cứu.............................................................

    1.4. Phương pháp nghiên cứu........................................................

    1.5.Giới hạn phạm vi nghiên cứu..................................................

    1.6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu

    2. NỘI DUNG...............................................................................

    2.1.Cơ sở lý luận của vấn đề.........................................................

    2.2. Thực trạng của vấn đề ...........................................................

    2.3.Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề....................

    2.4. Kết quả đạt được

    3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..................................................

    3.1. Kết luận.................................................................................

    3.2.Kiến nghị................................................................................

    4. PHỤ LỤC: Tài liệu tham khảo....................................................

    2

    2

    4

    4

    4

    4

    4

    5

    5

    7

    8

    14

    16

    16

    18

    19

     

     

     

    Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ

    1. Lý do chọn đề tài:

    Trong nhiều năm qua, chúng ta đã sử dụng rất nhiều thuật ngữ “Xã hội hóa giáo dục”; nhưng để hiểu và vận dụng cho đúng khái niệm này trong thực tế là một vấn đề cần phải bàn.

    Trước hết, nói về xã hội hóa là thuật ngữ được sử dụng để chỉ cách làm, cách thực hiện một hoạt động xã hội nào đó bằng con đường giác ngộ, tổ chức huy động tổng lực sức mạnh của toàn dân làm cho hoạt động này không chỉ thực hiện ở một ngành, một đoàn thể hay một tổ chức xã hội nào đó, mà được tất cả các ngành, các lực lượng xã hội cũng như mỗi người dân đều nhận thấy đó là trách nhiệm của mình, nên đều tự nguyện và tích cực phối hợp hành động thực hiện, đồng thời chính họ là người hưởng thụ mọi thành quả của hoạt động đó đem lại.

    Từ trước đến nay Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục và coi giáo dục là một trong những chính sách hàng đầu để xây dựng và phát triển đất nước. Chính vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước đã thường xuyên có những chính sách và giải pháp để thúc đẩy sự nghiệp phát triển giáo dục của nước nhà. Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối giáo dục, một con đường phát triển giáo dục nước ta. Giáo dục Tiểu học cũng không nằm ngoài chính sách này bởi vì giáo dục Tiểu học là bậc học đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhân cách con người.

    Nhìn chung trong những năm qua sự nghiệp giáo dục Tiểu học có nhiều thay đổi, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước từ Trung Ương đến địa phương, chính sách ưu tiên cho cấp học Tiểu học ngày càng được Nhà nước quan tâm đầu tư thích đáng. Đảng và Nhà nước cũng luôn coi trọng giáo dục Tiểu học.

    Trong nhận thức chung: “Xã hội hoá giáo dục ” được hiểu là sự huy động toàn xã hội với công tác giáo dục, xem đó là việc làm thường xuyên xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước. Ở nước ta, xã hội hoá giáo dục cũng là một quan điểm chỉ đạo của Đảng  xuyên suốt qua các thời kỳ, qua các văn kiện của Đảng. 

    Trong những năm qua công tác Xã hội hóa giáo dục ở trường tiểu học Trần Bội Cơ đã làm, nhưng hiệu quả mang lại còn chưa cao. Với tình hình phát triển của nhà trường trong giai đoạn hiện nay cần phải có biện pháp cụ thể quyết liệt hơn để đạt mục tiêu giáo dục của nhà trường.

    Vì vậy nhà trường có biện pháp huy động cha mẹ học sinh và các tổ chức xã hội ở địa phương cũng như ở nơi khác, quan tâm đến sự phát triển của nhà trường và để đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục đó là là một điều hết sức cần thiết. Thế nhưng cần phải làm gì để hoàn thành được trách nhiệm của mình được Đảng và Nhà nước giao phó là một điều tôi hết sức trăn trở bởi vì hiện nay nguồn kinh phí của trường hàng năm đều do phụ huynh đóng góp tự nguyện, nguồn kinh phí thì ít chưa đáp ứng để nâng cấp sửa chữa, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm đồ dùng, đồ chơi, nhằm phục vụ cho nhu cầu phát triển giáo dục chăm lo cho thế hệ tương lai của đất nước.

    2. Xác định mục đích nghiên cứu:

    -Tìm ra biện pháp hữu hiệu và phù hợp nhất đểnâng cao công tác xã hội hóa giáo dục ở trường Tiểu học Trần Bội Cơ.

    - Từ những giải pháp đã làm tìm ra nguyên nhân của những ưu, khuyết điểm để qua đó đưa ra những nội dung cải tiến mới về công tác xã hội hóa giáo dục ở trường Tiểu học Trần Bội Cơ.

    3. Đối tượng nghiên cứu:

    Trường Tiểu học Trần Bội Cơ, xã Đăk Môl, Huyện Đăk Song, Tỉnh Đăk Nông về thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục.

    4. Phương pháp nghiên cứu:

           - Phương pháp nghiên cứu lý luận.

           - Phương pháp thực tiễn.

           - Phương pháp quan sát.

           - Phương pháp tham mưu.

     - Phương pháp thực nghiệm.

     5. Giới hạn nghiên cứu:

      Do điều kiện khách quan và đảm bảo về mặt thời gian cũng như độ chính xác của đề tài nên tôi chỉ dừng lại việc khảo sát công tác xã hội hóa giáo dục với việc xây dựng cơ sở vật chất trong nhà trường.

    6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu

    - Thời gian làm đề cương sơ lược : 20/10 – 30/10/2016.

    - Thời gian viết nháp bản thảo : 20/11/2016 – 15/2/2017.

    - Thời gian hoàn thành : 27/02/2017.

    Phần II. NỘI DUNG

    1. Cơ sở lý luận:

    Giáo dục Tiểu học là nền tảng đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Để đảm bảo tốt công tác giáo dục trước hết nhà trường phải đáp ứng nhu cầu về tài chính, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên. Nhà trường cần phối hợp chặt chẽ gia đình và cộng đồng xã hội tham gia vào công tác chăm sóc giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất.

    Trong bối cảnh của đất nước ta hiện nay, việc thực hiện xã hội hóa giáo dục đã mang lại những hiệu quả thiết thực. Nhờ vậy mà chúng ta đã huy động được cộng đồng tham gia vào giáo dục trên cả hai mặt. Tiếp nhận giáo dục và đóng góp với nhà nước vào sự phát triển giáo dục, dần dần từng bước nâng cao sự hưởng thụ giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và làm cho giáo dục thực sự là của dân, do dân và vì dân.

    Để làm tốt công tác Xã hội hóa giáo dục thì người làm công việc này phải có tâm, phải biết hy sinh lợi ích cá nhân, phải biết  gắn kết nhà trường với cộng đồng xã hội để phát huy tối đa vai trò và tạo điều kiện cho Giáo dục khẳng định vai trò thúc đẩy phát triển cộng đồng xã hội, khơi gợi mọi tiềm năng, huy động mọi tiềm lực trong Xã hội tham gia xây dựng và phát triển Giáo dục.

    Xã hội hoá giáo dục là một bộ phận của xã hội hoá được vận dụng vào đặc thù của giáo dục Tiểu học. Xã hội hoá phải xuất phát từ nhiệm vụ, mục tiêu của giáo dục Tiểu học, vai trò của giáo dục đối với kinh tế - Xã hội, ngược lại là từ phía xã hội đối với giáo dục Tiểu học .

    Xã hội hoá giáo dục Tiểu học là huy động mọi nguồn lực xã hội cùng tham gia giáo dục Tiểu học, dưới sự thống nhất của Nhà nước. Việc chăm sóc giáo dục Tiểu học là nhiệm vụ chung của các trường lớp Tiểu học, gia đình trẻ và cộng đồng tạo điều kiện để cộng đồng và gia đình tham gia vào các hoạt động giáo dục.

    Giáo dục Tiểu học phải đáp ứng nhu cầu xã hội và cộng đồng. Thực hiện xã hội hoá giáo dục Tiểu học chúng ta mới thực hiện tốt mục tiêu trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài đến năm 2020: “Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học Tiểu học”.

    Chủ trương về công tác xã hội hoá chưa thực sự đi vào người dân, nơi nào biết làm, được nhân dân ủng hộ thì xã hội hoá phát huy được tốt tác dụng, nơi nào cấp Uỷ chính quyền ít quan tâm thì sự nghiệp giáo dục chỉ bó hẹp trong trách nhiệm của ngành giáo dục và đương nhiên là hiệu quả giáo dục thấp.

    Bên cạnh đó, sự nhận thức chưa đúng đắn về công tác xã hội hoá giáo dục, chưa tuyên truyền sâu rộng đến người dân làm nảy sinh tâm lý sợ hãi trong nhân dân mỗi khi nghe nói tới xã hội hoá .

    Xã hội hoá không chỉ có nghĩa là “nhà nước và nhân dân cùng làm’’. Thật ra, “nhà nước và nhân dân cùng làm” chưa nói hết bản chất của xã hội hoá. Xã hội hoá chính là một chủ trương liên quan đến đổi mới cơ chế quản lý, xoá bỏ cơ chế bao cấp, coi trọng biện pháp tự quản của xã hội .

    Xã hội hoá giáo dục có tác động to lớn trong việc xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và phát triển môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội theo nhiều hình thức, vận động toàn dân học tập suốt đời để làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và có cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho xã hội ta trở thành một xã hội học tập.

    2. Thực trạng của vấn đề:

    Trường  Tiểu học Trần Bội Cơ nằm trên địa bàn thôn E29 xã Đăk Môl, là một địa phương thuần nông, hầu hết người dân vùng này sống bằng nghề nông. Đời sống kinh tế của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến việc tham gia đóng góp và xây dựng trường và lo cho con em đi học, dân cư đông, địa bàn rộng nằm rải rác, đường sá giao thông đi lại rất khó khăn toàn là đường đất mùa mưa lầy lội, mùa nắng bụi nhiều  các em nơi đây đi học rất cực khổ. Có một số em đồng bào Dao, Tày nhà ở trong rừng cách trường 12km.

    Nhà trường với đội ngũ cán bộ, giáo viên của nhà trường chỉ có 18 người / 10 lớp /173 học sinh / 2 phân hiệu. Bên cạnh đó cơ sở vật chất phân hiệu còn tạm bợ, có 4 phòng học tạm, cổng trường, hàng rào, sân chơi chưa có còn tạm bợ, trang thiết bị đồ dùng đồ chơi, thiết bị giảng dạy còn thiếu thốn thực sự chưa đáp ứng được nhu cầu giảng dạy và học tập của các em học sinh, điều kiện học tập của đa số học sinh còn gặp nhiều khó khăn, nhất là các em người dân tộc thiểu số phía bắc di cư vào làm, gia đình chính sách hộ nghèo nhiều…

    Những băn khoăn trăn trở của nhà trường làm sao để xây dựng tốt cơ sở vật chất trường học nhằm đáp ứng chất lượng giảng dạy trong nhà trường đạt hiệu quả về công tác chăm sóc giáo dục học sinh. Tạo cho học sinh học tập đạt kết quả cao, giúp các em học sinh phát triển toàn diện nhân cách của mình. Nhà trường kết hợp hội phụ huynh học sinh, báo cáo Đảng uỷ, chính quyền địa phương lên kế hoạch hành động thực hiện về công tác xã hội hoá giáo dục trong nhà trường nhằm xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp đáp nhu cầu nguyện vọng của người dân. Tất cả các phương án đề xuất được địa phương phê duyệt, nhà trường áp dụng Thông tư  số  55/2011/TT-BGDĐT ngày 22 /11 /2011của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) ban hành Ban đại diện cha mẹ học sinh, nhà trường thông qua vào cuộc họp đầu năm, từng bước nhà trường thực hiện một cách công khai, dân chủ, được sự nhất trí cao của các bậc cha mẹ ủng hộ một cách nhiệt tình, tạo được niềm tin phấn khởi cho nhà trường và Ban chấp hành phụ huynh thực hiện. Tất cả vì học sinh thân yêu, nhà trường làm mọi cách nhằm tạo cho các bậc cha mẹ tin tưởng góp công sức, vật chất và tinh thần để xây dựng phòng học, hàng rào, mái che.. cho con em mình học tập đó là một việc làm có ý nghĩa to lớp được nhân dân đồng tình ủng hộ. Bên cạnh đó nhà trường được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo Huyện, Lãnh đạo phòng quán triệt thực hiện tốt các công văn, chỉ thị, nghị quyết về thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục, tạo tiền đề cho nhà trường áp dụng vào thực tiễn có hiệu quả.

    3. Một số giải pháp:

    a)  Nâng cao uy tín của nhà trường với phụ huynh, các cấp lãnh đạo và chính quyền địa phương

    Để huy động được sự ủng hộ của phụ huynh, các cấp lãnh đạo và chính quyền địa phương vào các công tác của nhà trường thì việc tạo lập và nâng cao uy tín của nhà trường đối với phụ huynh, các cấp lãnh đạo và chính quyền địa phương là điều hết sức cần thiết. Việc tạo lập uy tín của nhà trường phải bằng chính nội lực của nhà trường và sự phấn đấu của mỗi thầy, cô giáo trong các công tác của nhà trường và trong chính quá trình chăm sóc giáo dục trẻ, tạo một bầu không khí  phấn khởi tươi vui lành mạnh phát triển năng lực phẩm chất lẫn kiến thức của các em. Các em luôn luôn tiếp thu được nhiều bài học bổ ích từ hoạt động vui chơi hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Bên cạnh đó mỗi giáo viên phải chăm sóc giáo dục trẻ bằng cả tình thương và trách nhiệm của mình. Luôn dành cho các em những gì tốt đẹp nhất.

    Ngoài ra nhà trường tạo được niềm tin đối với phụ huynh bằng nâng cao chất lượng dạy và học, luôn tìm tòi đổi mới phương pháp giáo dục học sinh phát triển toàn diện. Kiện toàn các tiểu ban để giúp việc cho nhà trường trong từng lĩnh vực hoạt động về khuyến học, khuyến tài, công tác tuyên truyền kêu gọi đầu tư vào phát triển nhà trường. Định hướng phát triển đội ngũ đủ về số lượng, mạnh về chất lương. Tập thể luôn đoàn kết phát huy mọi thành tố tích cực, xây dựng tập thể vững mạnh toàn diện. Xây dựng môi trường giáo dục an toàn, hiệu quả, tập thể đoàn kết, có như vậy các mạnh thường quân mới yên tâm đầu tư vào phát triển nhà trường.

    Muốn nâng cao uy tín cho nhà trường ngoài những việc trên công tác 3 công khai trong đó công khai tài chính là hết sức quan trọng, có như vậy phụ huynh mới tin tưởng yên tâm khi đóng góp các khoản tự nguyện cho nhà trường.

    b)  Làm tốt công tác tham mưu với các cấp đảng ủy và chính quyền địa phương

    Chủ động tham mưu, thường xuyên tiếp xúc với chính quyền địa phương về những đề suất của mình với công tác phát triển giáo dục tại nhà trường. Trong công tác tham mưu phải kien trì, nhẫn nại, không chùn bước, tranh thủ mọi lúc mọi nơi sao cho đạt mục tiêu mình đề suất. Thường xuyên cung cấp kịp thời mọi thông tin của nhà trường , các hoạt động của ngành đến các cấp lãnh đạo chủ chốt trong cấp ủy, chính quyền. Công tác tham mưu thể hiện được ý đảng lòng dân và được thể hiện ở nghị quyết các cấp về phát triển Giáo dục trong tình hình mới.

     Để đáp ứng nhu cầu xã hội đòi hỏi mọi tổ chức, gia đình và công dân phải có trách nhiệm đóng góp công sức của mình cho nền giáo dục Việt Nam phát triển. Hiểu và phối hợp với nhà trường phát triển thực hiện mục tiêu giáo dục của xã nhà. Chủ trương của Đảng và nhà nước là thế nhưng trong thực tế không phải lúc nào  nhà trường củng được sự quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện của chính quyền địa phương. Đôi lúc Đảng và chính quyền địa phương còn phó thác mọi hoạt động của nhà trường là do ngành Giáo dục và nhà trường tự quyết định.

    Muốn thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục, là phó hiệu trưởng nhà trường tôi ý thức được trách nhiệm của mình là phải chủ động tích cực tham mưu với lãnh đạo các cấp. Thường xuyên thông tin 2 chiều với cấp ủy và chính quyền địa phương để kịp thời báo cáo được diễn biến của nhà trường và xin ý kiến chỉ đạo hỗ trợ. Luôn chủ động tranh thủ sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương.  Linh hoạt mời các vị lãnh đạo địa phương về  trường nhân các ngày trọng đại như: Ngày lễ khai giảng, tổng kết năm học, ngày 20/11… Tận dụng triệt để những cuộc họp của các ngành có liên quan, tranh thủ những giờ nghỉ giải lao, trò chuyện về tình hình trường, lớp để các đồng chí lãnh đạo hiểu và chia sẻ những khó khăn của nhà trường. Khi đã hiểu ra vấn đề, lúc đó lãnh đạo các cơ quan sẵn sàng hỗ trợ nhà trường một cách nhanh chóng. 

    Trong công tác tham mưu, cần phải kiên trì, nhẫn nại, không chùn bước, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi sao cho phù hợp.

    Trong công tác tham mưu cũng phải có kế hoạch chuẩn bị, phải chuẩn bị kỹ về nội dung để trình bày một cách có khoa học, hệ thống, toàn diện, trọng tâm vấn đề. Không tham mưu lan man, không báo cáo những công việc vụn vặt, không nằm trong chủ đề.

    Sau khi được lãnh đạo chấp thuận, việc thực hiện xong phải báo cáo kết quả như thế nào, để có hướng tham mưu tiếp theo.

    Thường xuyên và kịp thời cung cấp thông tin về nhà trường, các chủ trương của ngành, các hoạt động của các đơn vị tiên tiến, đến các cấp lãnh đạo chủ chốt trong cấp ủy, chính quyền, địa phương nhà trường kịp thời. Công tác tham mưu của nhà trường phải trở thành ý Đảng lòng dân, có như vậy mới được thể hiện cụ thể trong các nghị quyết của cấp ủy, văn bản chỉ thị để thực hiện.

    c) Mở rộng và tăng cường các mối quan hệ của nhà trường với các ngành, đơn vị, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế – xã hội

    Mở rộng và tăng cường các mối quan hệ của nhà trường với các ngành, đơn vị, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế – xã hội tạo điều kiện để xã hội có thể đóng góp về vật chất cũng như tinh thần cho sự nghiệp phát triển giáo dục tại nhà trường. Đặc biệt là các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng chân trên địa bàn hoặc nơi khác đến đầu tư.  Ngoài ra tranh thủ mọi sự ủng hộ của các tổ chức chính trị tại địa phương và ngoài địa phương đến thăm, chia sẽ và ủng hộ cho nhà trường. Tuy rằng mỗi tổ chức có một chức năng đặc thù công việc riêng của họ mà chúng tôi sẵn sàng chia sẽ. Tôi sẽ trình bày mọi phương án phát triển nhà trường cho họ biết, lắng nghe ý kiến họ chia sẽ.

    Tăng cường công tác giao lưu kết nghĩa với trường bạn TP HCM, xuống thăm và trình bày nguyện vọng với họ, qua đó họ sẽ là cầu nối để vận động các cá nhân và các tổ chức xã hội dưới đó đầu tư cho nhà trường.

     Để tận dụng được sự giúp đỡ của các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế xã hội nhà trường cần luôn quan tâm đến lợi ích trong việc huy động cộng đồng, biết tận dụng thời cơ và chủ động tham gia các hoạt động của địa phương trong các dịp lễ,  tết,  nhằm tạo  không khí sôi nổi trong các hoạt động văn hóa văn nghệ của  đơn vị, đồng thời tạo được mối quan hệ mật thiết với các đoàn thể với chính quyền địa phương, các cán bộ giáo viên phụ trách các thôn xóm. Phối hợp với Chủ tịch Hội khuyến học xã và Chủ tịch công đoàn trường để thống nhất các giải pháp huy động các nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất theo đúng quy định. Xin ý kiến chỉ đạo của Đảng ủy, Ủy ban nhân dân Xã Đăk Môl về nội dung kêu gọi các lực lượng xã hội tham gia xây dựng cơ sở vật chất trường học. Tiến hành tu sửa, mua sắm, xây dựng CSVC theo đúng lộ trình đã được phê duyệt của Ủy ban nhân dân xã. Báo cáo thu - chi với Ủy ban nhân dân về nguồn kinh phí huy động cũng như các nguồn đóng góp từ thiện. Thông báo danh sách cá nhân, tập thể tài trợ cho nhà trường trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ghi sổ vàng nhân đạo tại nhà trường, hằng đợt tổng kết tuyên dương, tặng hoa đến thăm các tổ chức và cá nhân đã có lòng hảo tâm ủng hộ cho nhà trường.

            d) Quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực huy động đóng góp của cha mẹ học sinh.

    Nhà trường thực hiện tốt công tác 3 công khai, trong đó có công khai tài chính là quan trọng nhất, đặc biệt là các loại quỹ huy động từ phụ huynh. Giao quyền cho phụ huynh chủ động kiểm soát các hình thức đóng góp ủng hộ. Quản lý không để thất thoát các loại quỹ đó, sử dụng hiệu quả vào các công việc theo kế hoạch xây dựng mà đã tham mưu, liên hệ xin được.

           Trước hết nhà trường đã tìm cách thuyết phục làm cho giáo viên và phụ huynh học sinh cùng thông suốt, nhất trí với sự cần thiết phải xây dựng cơ sở vật chất, nhà trường chỉ ra những thiệt thòi cho trẻ, những vất vả của giáo viên vì thiếu điều kiện về cơ sở vật chất và đặc biệt cơ sở vật chất chưa đáp ứng làm ảnh hưởng đến chất lượng, công tác chăm sóc, giáo dục trong nhà trường. Từ đó cần sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư từ phụ huynh

    Do xuất phát từ thực tế, nên ý kiến của nhà trường đề ra đã tạo được sự thống nhất cao từ phía giáo viên và phụ huynh học sinh, nhà trường tiếp tục phát động đề xuất giáo viên, phụ huynh học sinh suy nghĩ đề ra những giải pháp tốt hơn.

    Chính đội ngũ giáo viên và phụ huynh học sinh sau khi thông suốt về chủ trương xây dựng cơ sở vật chất theo tiêu chí “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đề ra, đã cùng với nhà trường đề ra nhiều giải pháp tốt.

    Yêu cầu về điều kiện cơ sở vật chất thì nhiều, khả năng lại không cho phép giải quyết tất cả trong cùng một thời gian. Vì vậy nhà trường thống kê tất cả những việc cần làm, những yêu cầu cần được sự hỗ trợ của phụ huynh, sau đó tính toán, ưu tiên cho những công trình cần xây dựng trước để đưa vào kế hoạch cụ thể. Sau đó tổ chức họp Ban chấp hành phụ huynh xin ý kiến bàn bạc, thống nhất và đi đến quyết định. Tiếp theo Ban chấp hành phụ huynh có kế hoạch chi tiết cụ thể việc cần làm, mức thu, dự kiến thu, chi, sau đó nhà trường tổ chức cuộc họp phụ huynh toàn trường, Ban chấp hành phụ huynh thông qua kế hoạch lấy ý kiến dân chủ, xin  phụ huynh góp ý và bàn bạc đi đến thống nhất. Sau cuộc họp Ban chấp hành phụ huynh và nhà trường lập tờ trình xin chủ trương của Uỷ ban nhân dân xã phê duyệt.

     Xây dựng quy chế phối hợp giữa hội đồng giáo dục nhà trường với Ban đại diện cha mẹ học sinh phù hợp với đặc điểm, hoạt động của nhà trường như: Tham gia giám sát các hoạt động chăm sóc giáo dục, phối hợp tổ chức các ngày lễ, ngày hội, thi giáo viên giỏi, học sinh thi kể chuyện Bác Hồ, trợ cấp cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, mua sắm, xây dựng, sửa chữa ...

    Song song với việc huy động nguồn lực, quản lý chặt chẽ các nguồn lực được huy động là khâu quan trọng nhằm bảo đảm sử dụng hiệu quả, tiết kiệm kinh phí. Nhà trường củng cố vai trò của Ban đại diện cha mẹ học sinh, cùng trực tiếp phối hợp, giám sát các hoạt động trong chăm sóc giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất nhà trường. Ban đại diện giám sát tất cả các nguồn huy động việc thu và chi, sử dụng vào các mục đích công khai tài chính thu, chi rõ ràng, hàng năm tổng kết đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu, đề ra giải pháp khắc phục, thông báo trong cuộc họp phụ huynh toàn trường và lấy ý kiến góp ý những tồn tại để khắc phục, nắm bắt điểm mạnh để phát huy hiệu quả tiếp theo.

    4. Kết quả đạt được:

    Thực hiện: “Công tác xã hội hoá giáo dục” ở trường Tiểu học Trần Bội Cơ trong năm qua đã đạt được một số thành tích như sau: Năm học 2016-2017 đã vận động Hội từ thiện Ngàn Hạc Giấy TP Hồ Chí Minh đang xây dựng tại phân hiệu nhà nội trú cho  học sinh ước chừng 350 triệu đồng công trình sẽ được bàn giao và đi vào sử dụng trong tháng 5/2017. Dự kiến tương lai nhà trường tiếp tục vận động các nhà hảo tâm trong tỉnh và ngoài tỉnh, đặc biệt trường kết nghĩa Q5 TP Hồ Chí Minh vận động hội quán tại đây ủng hộ xây dựng nhà “đa chức năng” dự án đã được thông qua chấp nhận, chờ thời gian thích hợp có quỹ sẽ đầu tư.  

    Ngoài ra nhà trường cũng đã huy động từ các nguồn thu cho phép (Quỹ giao lưu kết nghĩa tại TP Hồ Chí Minh, Qũi khuyến học, Quỹ Hội cha mẹ học sinh) để phục vụ tốt cho các hoạt động trong nhà trường như: khuyến học, khuyến tài, khen thưởng. Từ quỹ hội phụ huynh đã xây dựng sân khấu trung tâm và làm tường rào tại phân hiệu trị giá 20 triệu đồng.

    Nhờ thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục, cơ sở vật chất của nhà trường ngày càng cải thiện, môi trường giáo dục ngày càng tốt hơn, tạo điều kiện cho các bậc phụ huynh gửi con học, yên tâm đi làm.

    Cùng với việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất bên ngoài nhà trường đã huy động phụ huynh mua sắm thêm cơ sở vật chất bên trong cho mỗi lớp như bảng biểu, khẩu hiệu và một số vật dụng trang trí lớp. Bên cạnh đó nhà trường tạo điều kiện cho đội ngũ giáo viên học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tỉ lệ giáo viên Tiểu học đạt chuẩn là 100%, trong đó trên chuẩn là 72,2 %. Nhà trường dự tính đến năm hết năm 2017 đội ngũ giáo viên đạt trên chuẩn 95 %. Tỉ lệ học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học hằng năm đạt 100%, tỉ lệ học sinh hoàn thành lớp học 98%, học sinh khen thưởng đạt tỉ lệ 35-40%/tổng số học sinh.

    Cơ sở vật chất từ chỗ thiếu, chất lượng thấp, đến nay kiên cố hóa trường lớp đủ để thực hiện học 2 buổi/ ngày theo quy định. Không còn phòng học tạm bợ tranh tre mái lá. Nhà trường dành toàn tâm  toàn ý cho phát triển chất lượng.

    Phần III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận:

    Muốn làm tốt công tác huy động xã hội hóa giáo dục trước hết phải làm tốt công tác tuyên truyền, phải tạo uy tín với cộng đồng gia đình và xã hội. Bên cạnh xã hội hóa giáo dục, nhà trường cần tham mưu tốt các cấp lãnh đạo đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đầy đủ, tạo được môi trường học tập thuận lợi cho các em học sinh. Thường xuyên chú trọng nâng chất lượng giáo dục theo tiêu chuẩn mới. Từ đó phụ huynh và cộng đồng chia sẻ, quan tâm ủng hộ, có như vậy công tác xã hội hóa giáo dục mới được bền vững.

    Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục từng bước góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Bộ mặt nhà trường thay đổi nhanh chóng, cảnh quan sư phạm trường học càng thêm khang trang hơn, tạo tiền đề cơ bản trong việc xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, sớm đạt các tiêu chí trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Tác động tích cực đến mọi hoạt động của đơn vị.

              Từ những thực tế đã thực hiện tôi tự rút ra được cho mình rất nhiều kinh nghiệm vào công tác xã hội hóa của mình, luôn luôn tìm tòi sang tạo trong công tác. Tạo niềm tin với phụ huynh và chính quyền, luôn tranh thủ mọi sự ủng hộ cho công tác xã hội hóa Giáo dục. Tham mưu tích cực với các cấp uỷ chính quyền từ cấp Huyện đến cơ sở nhằm cụ thể hoá thành cơ chế, chính sách, giúp cho việc triển khai thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục đạt  kết quả.

    - Tăng cường các hình thức và biện pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức trong nhân dân về vai trò của giáo dục vì chỉ khi nhân dân hiểu về giáo dục, đồng tình với giáo dục, cùng chia sẽ khó khăn, cộng đồng trách nhiệm thì xã hội hoá giáo dục mới được phát huy tốt và hiệu quả giáo dục đạt như mong muốn.

    - Nhà trường chủ động có kế hoạch cụ thể rõ ràng những công việc cần làm, cần huy động, mức huy động được sự bàn bạc đi đến thống nhất giữa nhà trường với phụ huynh.

    - Tích cực phối hợp gia đình và cộng đồng xã hội tham gia vào các hoạt động giáo dục trong nhà trường, tạo được sự quan tâm cộng đồng tới bậc học Tiểu học.

    - Tham mưu chính quyền đoàn thể xã hội, các doanh nghiệp và các cá nhân ủng hộ tài chính , quan tâm đến sự nghiệp giáo dục.

    - Cần phát huy tốt nội lực trong việc phát triển nhà trường trong tương lai, từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, chất lượng  giáo dục toàn diện, có kế hoạch bồi dưỡng cho đội ngũ nâng cao trình độ, tạo sự tin tưởng trong phụ huynh học sinh cũng như cộng đồng dân cư về chất lượng giáo dục, làm cơ sở, làm chỗ dựa cho việc thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục. Nhà trường luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cộng đồng tham gia vào xã hội hoá giáo dục và mọi việc làm đều hướng đến mục đích của giáo dục, tạo môi trường thuận lợi để mỗi người thực hiện quyền được học và học tập suốt đời vì sự phát triển của cả cộng đồng trong tương lai.

         * Ý nghĩa quan trọng nhất:

    Thực hiện xã hội hoá giáo dục là con đường cơ bản để phát triển giáo dục nói chung, phát triển giáo dục Tiểu học nói riêng. Trong những năm qua, quá trình “Xã hội hoá giáo dục”ở Huyện Đăk Song nói chung trường Tiểu học Trần Bội Cơ nói riêng đã đạt được những thành công nhất định, nhưng trước mắt còn gặp nhiều khó khăn và thử thách rất lớn. Để đẩy mạnh hơn nữa quá trình: “Xã hội hoá giáo dục” trước hết là phải phát huy được tác dụng của nhà trường vào trong đời sống cộng đồng. Tăng cường công tác tuyên truyền công tác xã hội hoá giáo dục, kiến thức về chăm sóc giáo dục học sinh theo hướng mở rộng hơn nữa hệ thống các trường trọng điểm, xây dựng trường chuẩn quốc gia.

    Phối hợp tốt các cấp các ngành để làm tốt công tác tuyên truyền, vận động toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp Giáo dục.

    Qua thực tế cho thấy xã hội hoá giáo dục ở mỗi nhà trường vô cùng quan trọng trong khi nhà nước còn nhiều khó khăn, không có đầu tư chi tiết chỉ đầu tư tổng thể, thì rất cần thực hiện xã hội hóa giáo dục. Chính vì vậy nhà trường mới  nhanh chóng hoàn thiện các nhiệm vụ của mình một cách xuất sắc. Đúng như lời Bác Hồ đã từng dạy:

    "Dễ trăm lần không dân cũng chịu

    Khó vạn lần dân liệu cũng xong."

     

    2. Kiến nghị:

    Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp của các cấp, các ngành trong công tác xã hội hóa giáo dục nhằm tạo được sức lan tỏa cả bề rộng lẫn chiều sâu, nâng cao hiệu quả, chuyển biến tích cực qua từng năm.Thường xuyên chú trọng đến việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, nhân rộng mô hình xã hội hóa giáo dục tốt cho các đơn vị học tập, vận dụng vào thực tiễn công tác.

    Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân trong công tác xã hội hóa giáo dục tại đơn vị đã được triển khai. Kính mong quí cấp lãnh đạo bổ sung, góp ý để sáng kiến kinh nghiệm được hoàn thiện hơn được nhân rộng toàn ngành để áp dụng và phát huy được tính hiệu quả của sáng kiến. Góp phần thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục trong tình hình mới.

    Xin chân thành cảm ơn!

                                                        Đăk Môl, ngày 27 tháng 02 năm 2017

                                                                            Người viết

     

     

                                                                                             Hán Văn Tuấn

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

         1. Sách tăng cường mối quan hệ gia đình, nhà trường và xã hội góp phần xã hội hóa công tác giáo dục – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm

         2. Luật giáo dục( Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2005)

          3. Nghị quyết 05/2005/NQ-CP, ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hóa, các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao.

         4. Nghị định số 69/NĐ-CP, ngày 30/5/2008 chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động  trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.

         5.Chỉ thị 40/CT-BGDĐT, ngày 22/7/2008 về phát động phong trào thi đua: “Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực”

         6. Giáo trình nhập môn công tác xã hội.

         7. Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý, công chức ngành giáo dục.

         8. Báo cáo tổng kết năm học của nhà trường.

    ………………………………….

     

     

     

     

     

     

     

     

    NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH

         1.Cấp trường: ...............................................................................................................................

    .......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

       2. Cấp huyện:  ...............................................................................................................................

    .......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

    ....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

     

        

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Han Van Tuan @ 21:31 14/06/2017
    Số lượt xem: 68
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    CÙNG ĐỌC BÁO NHÉ